Trong canh tác lúa, vi khuẩn là nhóm tác nhân quan trọng gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Vi khuẩn gây hại thường khó phát hiện sớm và có tốc độ lây lan rất nhanh nhờ điều kiện thuận lợi về thời tiết: độ ẩm không khí cao, mưa kéo dài... Việc nhận diện đúng khả năng lưu tồn, cơ chế xâm nhiễm và cách phòng trừ kịp thời là chìa khóa để bảo vệ năng suất.
1. Vi khuẩn lưu tồn và lây lan do đâu?
Vi khuẩn gây hại lưu tồn chủ yếu trên hạt giống bị nhiễm khuẩn từ vụ canh tác trước, tàn dư rơm rạ chưa được xử lý, nước trên ruộng, bề mặt lá và bẹ lá...
Chúng chống chịu và nhân mật số trong điều kiện ngoại cảnh. Khi gặp thời tiết thuận lợi, vi khuẩn xâm nhiễm và gây ảnh hưởng đến năng suất.
2. Vi khuẩn xâm nhiễm như thế nào?
Vi khuẩn thường xâm nhập qua lỗ khí khổng trên lá hoặc thông qua các vết thương cơ giới (gió mạnh tạo các tổn thương cơ học, côn trùng chích hút...).
Khi xâm nhiễm vào mô cây, vi khuẩn nhân mật số nhanh trong không gian tế bào, tiết enzyme phá hủy thành tế bào và lan nhanh trong hệ thống mạch dẫn.
3. Các bệnh hại phổ biến do vi khuẩn
3.1. Cháy bìa lá
- Tác nhân: Vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae. Vi khuẩn có thể tồn tại trong khoảng nhiệt độ từ 10-40℃. Nhiệt độ thích hợp nhất cho vi khuẩn phát triển là 26-30℃.
- Triệu chứng: Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh là triệu chứng cháy bìa lá, vết cháy dọc theo hai bên bìa của lá lúa, rồi lan dần vào gân chính của lá. Tuy nhiên, vi khuẩn gây bệnh củng có thể xâm nhập vào lá lúa từ vết thương ở bất kỳ nơi nào trên lá lúa và gây vết bệnh lan dần theo chiều dọc của lá lúa, tạo ra vết bệnh giữa phiến lá. Về màu sắc của vết bệnh, lúc đầu có màu vàng nhạt hoặc đỏ nhạt, về sau chuyển sang màu xám trắng tức là lúc tế bào nơi vết bệnh đã chết. Ngoài ra, lúc sáng sớm khi thời tiết còn ẩm ướt, bên dưới mặt lá lúa tại nơi vết bệnh có thể phát hiện các giọt dịch vi khuẩn tròn nhỏ, màu vàng nhạt.
Hình 1: Bệnh cháy bìa lá trên lúa
3.2. Sọc trong
- Tác nhân: Vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzicola.
- Triệu chứng: Lúc đầu, vết bệnh là những sọc nhỏ, màu xanh đậm dạng thấm nước và trong mờ, nằm giữa các gân nhỏ của lá lúa. Sau đó, vết bệnh ngã màu vàng cam và trong mờ khi nhìn xuyên qua ánh sáng. Các sọc màu vàng có thể kéo dài ra và lan dần trên phiến lá và sau đó ngã sang màu vàng nâu. Trong điều kiện ẩm ướt, trên mặt lá lúa bệnh có các giọt dịch vi khuẩn tiết ra.
Hình 2: Bệnh sọc trong trên lúa
3.3. Thối gốc
- Tác nhân: Vi khuẩn Erwinia chrysanthemi.
- Triệu chứng: Đầu tiên, ở bẹ lá lúa, phần sát gốc có vết thối màu nâu sậm. Sau đó cả bẹ lá bị thối nhũn. Lá lúa ở bẹ mắc bệnh ngã màu vàng, rồi cháy khô và rụt xuống. Bẹ lá bệnh có thể bị rứt đứt dễ dàng và có mùi thối. Bệnh lan dần cho cả bụi lúa, làm cho tất cả các bẹ đều thối. Cả gốc lúa và rễ lúa bệnh đều thối, ngã màu nâu đen. Khi bệnh nặng, lây lan làm cả ruộng lúa bị cháy rụi.
Hình 3: Bệnh thối gốc trên lúa
3.4. Lép vàng
- Tác nhân: Vi khuẩn Burkholderia glumae.
- Triệu chứng: Vỏ trấu có màu vàng rơm. Nếu tách vỏ trấu của những hạt mắc bệnh ra sẽ thấy phôi nhũ của hạt lúa bị thối, gạo không vào chắc. Bệnh gây hại cho một vài nhánh gié của gié lúa, bệnh nặng hơn làm cả gié lúa đều bị lép, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất.
Hình 4: Bệnh lép vàng trên lúa
4. Phòng trừ bệnh do vi khuẩn như thế nào?
- Không sử dụng hạt giống từ ruộng đã nhiễm bệnh.
- Nên xử lý hạt giống trước khi gieo sạ.
- Xử lý đất và rơm rạ thật kỹ trước khi gieo sạ.
- Bón phân cân đối, không bón thừa phân đạm.
- Tiến hành phun ngừa và quản lý ở những thời điểm quan trọng (ôm bắp, trổ lẹt xẹt, trổ đều...) bằng các hoạt chất: Oxolinic acid, Salicylic acid...